“Từ con” là một khái niệm không còn xa lạ trong đời sống xã hội. Có thể hiểu rằng “từ con” là việc cha mẹ muốn chấm dứt mối quan hệ cha, mẹ với con, họ không muốn xem đó là con của mình nữa. Pháp luật qua các thời kỳ chưa cho phép bố mẹ thực hiện hành vi này trừ khi bố mẹ có đủ chứng cứ để chứng minh rằng người con đó không cùng huyết thống với mình và đã được chấp nhận bằng một Quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.
Nhiều người vẫn thường công khai rằng chúng tôi đã “từ” nó lâu rồi, họ hàng và mọi người xung quanh đều biết, đều nghe về điều đó nhưng về mặt pháp lý quan hệ giữa bố mẹ với con không hề mất đi. Do đó, việc bị bố mẹ “từ con” không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của con mà chỉ phụ thuộc vào tính hợp pháp của di chúc mà bố mẹ để lại.
Trường hợp 1: Nếu bố mẹ lập di chúc hợp pháp theo điều 630 Bộ luật dân sự 2015 thì việc phân chia di sản thừa kế được thực hiện theo ý chí của người lập di chúc. Lúc này, nếu bố mẹ lập di chúc không để lại tài sản cho người con thì người con không được hưởng di sản thừa kế trừ khi người con này thuộc trường hợp “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” quy định tại Điều 644 bộ luật dân sự 2015 như người con này chưa đến tuổi thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Trường hợp 2: Nếu bố mẹ lập di chúc nhưng di chúc không hợp pháp hoặc bố mẹ không lập di chúc thì lúc này di sản thừa kế của bố mẹ sẽ được chia theo pháp luật. Trong trường hợp này, người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ nên sẽ được hưởng di sản theo pháp luật được quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp 3: Nếu bố mẹ lập di chúc nhưng di chúc không hợp pháp hoặc bố mẹ không lập di chúc thì lúc này di sản thừa kế của bố mẹ sẽ được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu người con có một trong các hành vi thuộc trường hợp “Người không được quyền hưởng di sản” quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 thì người con cũng không được hưởng di sản thừa kế do bố mẹ để lại. Các trường hợp này bao gồm: