Khi ly hôn, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung sẽ do hai bên vợ chồng tự nguyện thoả thuận. Trong trường hợp hai vợ chồng không thể tự thoả thuận với nhau về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết. Vậy toà án thường căn cứ vào đâu để đưa ra mức cấp dưỡng phù hợp?
Khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.
Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”
Như vậy, khi các bên không tự thoả thuận được mức cấp dưỡng nuôi con thì Toà án sẽ căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên để ấn định một mức cấp dưỡng phù hợp nhưng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú. Ngoài ra, để có thể xác định một nửa tháng lương tối thiểu vùng là bao nhiêu thì cần căn cứ theo quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/01/2026. Theo đó, chi tiết mức lương tối thiểu vùng theo tháng và theo giờ như sau: Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng và 25.500 đồng/giờ. Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng và 22.700 đồng/giờ. Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng và 20.000 đồng/giờ. Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng và 17.800 đồng/giờ. Để biết người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang cư trú ở vùng nào cần đối chiếu với danh mục địa bàn áp dụng đính kèm Nghị định số 293/2025/NĐ-CP. Ví dụ: anh A là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn và hiện đang cư trú tại phường Tân Thới Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh A và chị B khi giải quyết ly hôn không tự thoả thuận được với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con chung là C. Chị B yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, toà án sẽ căn cứ vào các quy định tại điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình để đưa ra một mức cấp dưỡng phù hợp không được thấp hơn nửa tháng lương tối thiểu vùng I nghĩa là không dưới 2 655 000 đồng/tháng.
Như vậy, mặc dù pháp luật tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của vợ chồng về mức cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn nhưng trong trường hợp các bên không thể tìm được tiếng nói chung, pháp luật vẫn quy định mức cấp dưỡng tối thiểu để đảm bảo quyền lợi của người được cấp dưỡng và đồng thời phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.